Chủ nhật, ngày 07 tháng 06 năm 2026
Thống kê hồ sơ
Hien chua co khao sat.
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hôm nay:

Hôm qua:

Trong tuần:

Tất cả:

Cập nhật lúc: 26/12/2025

Một số chính sách mới liên quan đến doanh nghiệp có hiệu lực từ tháng 8, 9/2025

1. Bổ sung nhiều chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ từ ngày 1/9/2025.

  • Chính phủ đã ban hành Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày 14/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nghị định số 205/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/9/2025.
  • Nghị định 205/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 5 về chính sách hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
  • Theo đó, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ để sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ từ Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao, các ưu đãi, hỗ trợ về chuyển giao công nghệ và các ưu đãi, hỗ trợ khác theo quy định hiện hành…

2. Triển khai thị trường các-bon trong nước từ 01/8/2025 theo quy định mới

  • Ngày 09/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP liên quan đến giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, trong đó điều chỉnh quan trọng về lộ trình triển khai thị trường các-bon trong nước.
  • Theo nghị định mới, từ nay đến hết năm 2028, Việt Nam sẽ tập trung thiết lập Hệ thống đăng ký quốc gia, tổ chức vận hành thí điểm Sàn giao dịch các-bon trong nước và triển khai cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon. Song song, các hoạt động nâng cao năng lực, nhận thức về thị trường các-bon cũng được đẩy mạnh.
  • Từ năm 2029, sẽ triển khai cơ chế đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính, đồng thời hoàn thiện quy định pháp lý về quản lý tín chỉ các-bon, tổ chức và vận hành thị trường trong nước, tiến tới tham gia thị trường các-bon toàn cầu.
  • Việc ban hành Nghị định 119/2025/NĐ-CP thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc xây dựng thị trường các-bon minh bạch, hiệu quả, góp phần thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính và phát triển kinh tế bền vững.

3. Có thể góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo bằng quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật từ ngày 15/9/2025

  • Chính phủ ban hành Nghị định số 210/2025/NĐ-CP ngày 21/7/2025. Trong đó, Nghị định số 210/2025/NĐ-CP sửa đổi Điều 5 Nghị định số 38/2018/NĐ-CP về Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo hướng mở rộng một số điều kiện như: Loại tài sản góp vốn (bổ sung góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật) và các hình thức đầu tư (công cụ chuyển đổi, quyền mua cổ phần); đồng thời, quy định rõ ràng và chặt chẽ hơn về việc sử dụng vốn nhàn rỗi và các khoản đầu tư vào tổ chức tín dụng.
  • Cụ thể, Nghị định số 210/2025/NĐ-CP nêu rõ: Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không có tư cách pháp nhân, có từ 02 đến tối đa 30 nhà đầu tư góp vốn thành lập trên cơ sở Điều lệ quỹ. Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo không được góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo khác.
  • Tài sản góp vốn có thể bằng Đồng Việt Nam, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
  • Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 15/9/2025.

4. Mức đóng bảo hiểm y tế từ 15/8/2025

  • Chính phủ ban hành Nghị định số 188/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 15/8/2025.
  • Nghị định quy định rõ mức đóng bảo hiểm y tế. Cụ thể:
    • Mức đóng do người sử dụng lao động đóng hoặc người lao động đóng hoặc cùng đóng được quy định như sau:a) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại các điểm a, c, d và e khoản 1 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó người sử dụng lao động đóng hai phần ba và người lao động đóng một phần ba;
      b) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại các điểm b và đ khoản1 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và do đối tượng đóng;
      c) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% mức lương cơ sở, trong đó người sử dụng lao động đóng hai phần ba và người lao động đóng một phần ba;
      d) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó người sử dụng lao động đóng hai phần ba và người lao động đóng một phần ba;
      đ) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% mức lương cơ sở và do người sử dụng lao động của công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ trong quân đội, người sử dụng lao động của công nhân công an đang công tác trong công an nhân dân đóng;
      e) Mức đóng hằng tháng của đối tượng 5 ở trên bằng 4,5% mức lương cơ sở và do người sử dụng lao động của người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu theo quy định của pháp luật về cơ yếu đóng;
      g) Người lao động là cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ công tác hoặc tạm đình chỉ chức vụ mà chưa bị xử lý kỷ luật thì mức đóng hàng tháng bằng 4,5% của 50% mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động của tháng liền kề trước khi bị tạm giam, tạm giữ hoặc tạm đình chỉ theo quy định của pháp luật, trong đó người sử dụng lao động đóng hai phần ba và người lao động đóng một phần ba. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền kết luận là không vi phạm pháp luật, người sử dụng lao động và người lao động phải truy đóng bảo hiểm y tế trên số tiền lương được truy lĩnh.
  • Mức đóng do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng được quy định như sau:
    • a) Mức đóng hàng tháng của đối tượng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động;
    • b) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 2 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế và khoản 1 Điều 5 Nghị định này bằng 4,5% mức lương cơ sở;
    • c) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% tiền trợ cấp thất nghiệp.
  • Mức đóng của nhóm do ngân sách nhà nước đóng được quy định như sau:
    • a) Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại các điểm e, g, h, i, k, l, m, o, p, q, r, s, t và u khoản 3 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế và các khoản 2, 3, 6 và 7 Điều 5 Nghị định này bằng 4,5% mức lương cơ sở;
    • b) Mức đóng hàng tháng của đối tượng quy định tại điểm n khoản 3 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế bằng 4,5% mức lương cơ sở và đóng thông qua cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp học bổng.
  • Mức đóng của nhóm do ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng được quy định như sau: Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế và khoản 4 Điều 5 Nghị định này bằng 4,5% mức lương cơ sở do đối tượng tự đóng và được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng theo quy định.

5. Từ ngày 15/9/2025, Ngân hàng Nhà nước siết chặt tỷ lệ an toàn vốn

  • Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ 15/9/2025.
  • Theo quy định, các ngân hàng phải duy trì tối thiểu: Tỷ lệ vốn lõi cấp 1 là 4,5%, tỷ lệ vốn cấp 1 là 6% và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là 8%. Đối với ngân hàng có công ty con, ngoài yêu cầu riêng lẻ, còn phải đảm bảo tỷ lệ hợp nhất.
  • Thông tư cũng bổ sung bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) và bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB), buộc ngân hàng tăng dần vốn dự phòng từ năm đầu tiên với 0,625% lên 2,5% từ năm thứ tư, qua đó nâng tỷ lệ CAR lên tối thiểu 10,5%. Ngân hàng chỉ được chia lợi nhuận khi đáp ứng đầy đủ các tỷ lệ này.
  • Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu ngân hàng duy trì tỷ lệ cao hơn nếu phát hiện rủi ro, nhằm bảo đảm an toàn hoạt động và hệ thống tài chính quốc gia. Quy định mới được kỳ vọng sẽ thúc đẩy minh bạch, củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

6. Các giấy tờ được miễn hợp pháp hóa lãnh từ ngày 3/8/2025

  • Nghị định 196/2025/NĐ-CP ngày 4/7/2025 sửa đổi, bổ sung về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự có hiệu lực từ 03/8/2025 quy định các giấy tờ được miễn hợp pháp hóa lãnh sự gồm:
    • Giấy tờ, tài liệu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên, hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
    • Giấy tờ, tài liệu được chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
    • Giấy tờ, tài liệu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
    • Giấy tờ, tài liệu của nước ngoài mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam không yêu cầu phải hợp pháp hóa lãnh sự trên cơ sở cơ quan đó tự xác định được tính xác thực của giấy tờ, tài liệu đó.

7. Cách nộp thuế điện tử với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh từ ngày 7/8/2025

  • Thủ tục về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh từ ngày 07/8/2025 được Bộ Tài chính quy định tại Thông tư 51/2025/TT-BTC ngày 24/6/2025.
  • Theo Thông tư Thông tư 51/2025/TT-BTC, người nộp thuế có thể sử dụng các phương thức dưới đây để nộp thuế bằng phương thức điện tử:
    • Qua Cổng thanh toán điện tử hải quan
    • Qua ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phối hợp thu
    • Qua ngân hàng phối hợp thu đồng thời có ủy nhiệm thu với Kho bạc Nhà nước
    • Qua ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán chưa phối hợp thu với cơ quan hải quan.
Lấy link copy
In Gửi Email

Bài viết liên quan

  • Không có bài viết liên quan

CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC

ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang